[The First Of Vietnam] Mỏ Kế Bào – Mỏ than đầu tiên của Việt Nam

30-01-2021

(Firstvietnam.vn) Theo các tài liệu lịch sử, mỏ than Kế Bào (xã Vạn Yên, huyện Vân Đồn) được xác định là mỏ than đầu tiên ở Việt Nam. Và hiện tại, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh đang có dự định dựng một nhà bia tại đây để ghi dấu sự kiện này...

Nằm tại xã Vạn Yên, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, mỏ than Kế Bào là một trong những địa điểm khai thác mỏ than đầu tiên tại Quảng Ninh nói riêng và Việt Nam nói chung.
Tài nguyên than là một trong những nguồn khoáng sản dồi dào của tỉnh Quảng Ninh. Trong đó, lịch sử khai thác than tại Việt Nam gắn liền với sự phát triển qua các thời kỳ tại Quảng Ninh. Nếu như huyện Đông Triều là địa điểm khai thác đầu tiên ở Việt Nam từ thời Nguyễn thì huyện Vân Đồn là nơi khai thác mỏ than đầu tiên của Việt Nam từ thời Pháp thuộc.
 
Việc khai thác than của người Việt tại Đông Triều bắt đầu từ năm 1840. Thế nhưng đó chỉ là hình thức khai thác thủ công, sơ khai. Chỉ sau khi người Pháp đánh chiếm và thiết lập bộ máy cai trị, quá trình khai thác than mới được tiến hành một cách quy mô.
 
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Năm 1884, chính thức đặt ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam, nhân dân ta hưởng ứng chiếu Cần Vương đã nổi dậy chống Pháp xâm lược. Sau khi đàn áp được phong trào yêu nước, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần thứ I ở Đông Dương. Trong đó, tại Việt Nam, cuộc xâm lược khu vực miền Bắc, thực dân Pháp đã cho mở mỏ than trên đảo Kế Bào (ngày nay là đảo Cái Bầu).
 
Vào năm 1888, người Pháp bắt đầu lập mỏ khai thác than và Kế Bào là mỏ than đầu tiên được S.F.C.T (Công ty Than Bắc Kỳ) thành lập vào ngày 01-09-1888. Cũng trong thời gian này, toàn quyền Pháp ở Đông Dương không cần khế ước của triều đình nhà Nguyễn đã tặng toàn bộ mỏ than Kế Bào cho tên lái súng Giăng-đuy-puy vì hắn đã có công dẫn Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ. Trên con đường đi từ mỏ than Kế Bào ra cảng Vạn Hoa hơn 10km, người Pháp đã làm đường và một số cây cầu sắt, cầu bê tông đưa than ra cảng, đường chui qua cống, đường đục núi để đi qua. Xưa nay, người Vân Đồn vẫn quen gọi là cầu Min-nơ hoặc cầu Cái Làng.
 

 

 

 
Mỏ than Kế Bào được thành lập với số vốn ban đầu 2,5 triệu Phơ-răng, số vốn đó ngày một tăng lên. Từ 1891-1895, đã vọt lên 6 triệu Phơ-răng. Nhằm khai thác được nhiều than, vơ vét về chính quốc và xuất khẩu, kiếm nhiều lợi nhuận siêu ngạch, thực dân Pháp đã cho xây dựng một số công trình căn bản với gần 10 đường lò, 14km đường goòng, một nhà máy sàng công suất 1.683 mã lực và xây dựng cảng Vạn Hoa.
 
Ngày 19-12-1911, công ty than Kế Bào được thành lập với số vốn ban đầu là 30 triệu Phơ-răng. Năm 1890 có 2.750 công nhân. Sản lượng than đã khai thác của Công ty Kế Bào là 30.242 tấn. Năm 1932, có 1.700 công nhân Á Đông và 13 người châu âu. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa (1929-1933), bọn thực dân thẳng tay giãn thợ. Vì vậy đến năm 1935, chỉ còn 600 công nhân người Á Đông và 2 người Châu Âu. Chế độ thống trị của thực dân mỏ ở đây vô cùng hà khắc, công nhân, nông dân ở đây phải chịu hai bộ máy áp bức bóc lột thậm tệ. Một là bộ máy áp bức bóc lột của bọn thực dân phong kiến. Hai là bộ máy thống trị của bọn thực dân chủ mỏ cùng với bộ máy bạo lực của bọn thực dân phong kiến để bảo vệ mỏ, chống lại các cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động. .. Tính từ 1888 đến 1935, cùng với mỏ than Kế Bào, tư bản Pháp đã lập 80 mỏ than lớn nhỏ ở vùng than Quảng Ninh.
 
Trải qua bao thời kỳ lịch sử nay mỏ than Kế Bào chỉ còn lại dấu tích của hệ thống cầu sắt, đường xe goòng tải than, tường bao nền nhà hoang phế, đường thông gió,…được xây dựng từ thời Pháp thuộc.
 

 

Đường thông gió.

 

Trong công cuộc dựng nước và giữ nước, công trình khu mỏ Kế Bào là địa điểm quan trọng mang tính lịch sử gắn liền với truyền thống đấu tranh hào hùng của dân tộc ta, là nguồn di sản quý giá trong lịch sử phát triển ngành than khoáng sản tại Việt Nam. Hơn nữa, di tích này không chỉ in dấu quá trình phát triển của ngành than khoáng sản mà còn gắn liền với thời kỳ phát triển tại vùng đất Vân Đồn và tỉnh Quảng Ninh.

content 1 mobi
content1
content 2 mobi
content 2
ct9
ct10
ct11
ct12
ct13
ct14