[TOP FIRST] P3 – Những tiến sĩ 'Tây học' đầu tiên của Việt Nam

23-06-2022

(firstvietnam.vn/topplus.vn) – Những người con đất Việt đã tạo dấu ấn trên đất người bởi tài năng của mình, làm vẻ vang cho nhà cho nước.

1. Hoàng Thị Nga – nữ tiến sĩ Tây học đầu tiên
 
Bà Hoàng Thị Nga sinh năm 1903 trong một gia đình thế gia ở làng Đông Ngạc (tục gọi là làng Vẽ hay Kẻ Vẽ), tổng Minh Cảo, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Cầu Đơ (nay là phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
 

 

Xuất thân trong gia đình có truyền thống học hành, thân phụ có tư tưởng tiến bộ, thông giỏi cả Nho học lẫn Quốc ngữ, thuở nhỏ bà được cho theo học trường nữ sinh tiểu học Pháp-Việt Ecole Brieux (số 51 và 53 phố Jules Ferry, còn gọi là phố Hàng Trống, nay là Trường THCS Thanh Quan). Sau đó bà được cho theo học Trường Sư phạm nữ sinh người Việt (École Normale des Institutrices annamites, nay là trường Trường THCS Trưng Vương) ở phố Hàng Bài (tên chính thức là Đại lộ Đồng Khánh).
Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, bà đi dạy học ở Đáp Cầu (Bắc Ninh) một thời gian. Sau đó bà tiếp tục theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm (École Supérieure de Pédagogie), rồi sang Pháp nhập học tại khoa Khoa học (Faculté des sciences) thuộc Đại học Paris (nay là Đại học Sorbonne) tháng 8 năm 1928 và lấy được bằng Cử nhân vào năm 1931.
 

Luận án tiến sĩ của bà Hoàng Thị Nga

 
Ngày 19/3/1935, với luận án có tên Propriétes photovoltaique des substances organiques (Tính chất quang điện của các chất hữu cơ), bà đã bảo vệ thành công và trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đạt được học vị Tiến sĩ khoa học.
Tạp chí Khoa học số 97, ra ngày 1.7.1935 có bài “Thật là vẻ vang cho đàn bà nước Nam: Cô Hoàng Thị Nga mới đỗ tiến sỹ về khoa học vật lý” nói về vị tiến sĩ này như sau: 
“Hội đồng, sau khi nghe bài luận thuyết của cô, đồng thanh ngợi khen cô và nhận cho cô được lấy bằng tiến sĩ vào ưu hạng. Cô lại còn được khen về phương diện sư phạm nữa. Công chúng đến xem kỳ thi ấy đều tâm phục cái tài khoa học của một cô gái Việt Nam. Cô Hoàng Thị Nga lấy được bằng tiến sỹ khoa học trước nhất ở nước Nam này, thật cô đã làm vẻ vang cho nhà, cho nước, nhất là cho phái nữ lưu, cho các trường cô tòng học, cho các giáo sư đã luyện tập cho cô được thành tài, như ông Petelot, Bernard".
 

 

 
Theo một số nguồn tài liệu, bà Hoàng Thị Nga từng là Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Khoa học (một số nguồn là trường Cao đẳng Khoa học). Bà giữ chức vụ trong một thời gian ngắn, sau đó quay về Pháp sinh sống. Tuy nhiên, không rõ vì lý do nào mà tên tuổi TS Hoàng Thị Nga mất hút hoàn toàn trong lịch sử giáo dục ĐH Việt Nam. 
Quay về Pháp, bà Nga tham gia trong nhóm phát minh sáng chế vô tuyến màu, nên được nước Pháp vinh danh bằng cách ghi tên bà trên Bia tưởng niệm ở Nghĩa trang Danh nhân Pháp.
 
2. Lê Văn Thiêm –Tiến sĩ Toán học đầu tiên
 
Lê Văn Thiêm sinh năm 1918 tại xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong một dòng họ có truyền thống hiếu học, khoa bảng. 
 

 

Ngay từ nhỏ, Lê Văn Thiêm đã làm cho tất cả các thầy giáo phải kinh ngạc về sự thông minh xuất chúng của mình, đặc biệt ở môn Toán học. Anh giải được những bài toán của các lớp trên và giải bằng nhiều cách khác nhau. Chỉ trong 4 năm (1933 - 1937), anh đã hoàn thành xuất sắc chương trình học 9 năm và đứng đầu danh sách khen thưởng của nhà trường khi tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học (tương đương với Phổ thông cơ sở ngày nay). Ba tháng sau, Lê Văn Thiêm lại lập một kỳ tích mới: thi đỗ tú tài phần 1 (tương đương lớp 11 ngày nay), việc mà người bình thường phải chuẩn bị khẩn trương trong 2 năm. Ngay năm sau, anh lại thi đỗ tú tài toàn phần.
Nguyện vọng lúc này của Lê Văn Thiêm là học tiếp Toán học ở bậc đại học. Tuy nhiên, khi đó cả Đông Dương chỉ có một trường đại học tại Hà Nội, chuyên về Y khoa và Luật khoa, chưa đào tạo cử nhân Toán, nên năm 1938, Lê Văn Thiêm đành phải ghi tên theo học lớp Lý - Hoá - Sinh (PCB) để chuẩn bị vào học ngành Y. Năm sau (1939) với thành tích đỗ thứ nhì kỳ thi PCB, Lê Văn Thiêm được nhận học bổng sang Pháp du học tại trường Đại học Sư phạm Paris (école Normale Supérieure).
Ông tốt nghiệp Thạc sĩ năm 1943 tại Paris, sau đó ông sang làm luận án Tiến sĩ tại Đại học Göttingen (Đức) với học bổng của Quỹ Alexander von Humboldt dưới sự hướng dẫn của nhà toán học Hans Wittich. Luận án Tiến sĩ Toán học của ông về giải tích phức và được bảo vệ thành công năm 1945 tại Đại học Göttingen với tên "Über die Bestimmung des Typus einfach zusammenhängender offener Riemannscher Flächen", tạm dịch: "Về việc xác định kiểu của một diện Riemann mở đơn liên". Buổi bảo vệ được tổ chức vào ngày 4/4/1945, sau đó bằng tiến sĩ được trao vào ngày 8/4/1946 với điểm đánh giá trung bình: Giỏi. Ông được xem là người Việt Nam đầu tiên có bằng Tiến sĩ Toán học.
 

Bằng tiến sĩ của ông Lê Văn Thiêm

 
Ông tiếp tục bảo vệ luận án Tiến sĩ Quốc gia ở Pháp năm 1949 tại Đại học Paris 11 với luận văn có nhan đề là "Sur le problème d'inversion dans la théorie de la distribution des valeurs des fonctions méromorphes", tạm dịch: "Về bài toán ngược trong lý thuyết phân phối giá trị các hàm phân hình".
Lê Văn Thiêm là người đầu tiên đưa ra lời giải cho một bài toán khó đã tồn tại nhiều năm của "Bài toán ngược của lý thuyết Nevanlina". Công trình của ông không chỉ được quan tâm vì đã chứng minh sự tồn tại nghiệm của bài toán đó, mà còn vì ông đã đưa ra một phương pháp hoàn toàn mới để nghiên cứu vấn đề đặt ra. Trong những công trình khoa học và sách chuyên khảo gần đây trên thế giới, người ta vẫn còn nhắc tới công trình của ông viết cách đây hơn nửa thế kỷ và nhắc đến ông như là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết về Toán học.
Năm 1951, Lê Văn Thiêm được giao nhiệm vụ xây dựng Trường Khoa học Cơ bản và Trường Sư phạm Cao cấp và cử giữ chức vụ Hiệu trưởng của hai trường này và giảng dạy môn Cơ học lý thuyết (khi đó có tên là Đại học Sư phạm Khoa học) và Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (khi đó có tên là Đại học Khoa học Cơ bản).
Đồng thời, ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học, chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam và tổng biên tập đầu tiên của hai tạp chí toán học Việt Nam: tạp chí "Acta Mathematica Vietnamica" và "Vietnam Journal of Mathematics".
Để ghi nhớ những cống hiến to lớn của ông về khoa học, giáo dục và xã hội, 5 năm sau ngày ông mất, Nhà nước Việt Nam đã truy tặng ông giải thưởng Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập hạng Nhất, vinh dự cao quý mà ít nhà khoa học đạt được.
 
3. Nguyễn Văn Huyên – người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa
 
Nguyễn Văn Huyên sinh ngày 16.11.1908 tại phố Thuốc Bắc, Hà Nội. Từ rất sớm, Nguyễn Văn Huyên đã được gia đình tạo điều kiện cho học hành cẩn thận, lúc đầu học chữ Hán sau chuyển sang học chữ quốc ngữ. Năm 18 tuổi, Nguyễn Văn Huyên và người em trai được gia đình cho sang Pháp du học. Năm 20 tuổi, ông đỗ tú tài. Một năm sau đỗ cử nhân văn chương, năm tiếp theo đỗ thêm một bằng cử nhân Luật. 
 

 

 

Năm 1934 ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne, Paris với luận án chính "Hát đối đáp nam nữ thanh niên ở An Nam" và luận án phụ "Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông Nam Á". Hai bản luận án này được xếp loại xuất sắc, được in thành sách và xuất bản ở Pháp với sự hoan nghênh của giới chuyên môn Pháp, Đức, Hà Lan... và đư��c Hội đồng giám khảo đánh giá là "một sự kiện đáng ghi nhớ" trong lịch sử nhà trường.

 

Luận án tiến sĩ của ông Nguyễn Văn Huyên

 

Ông được xem là một nhà dân tộc học/nhân học thuộc thế hệ đầu tiên, đặt nền móng cho nghiên cứu văn hoá, văn minh Việt Nam và cũng là người giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam trong thời gian dài nhất với 28 năm, 350 ngày. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2  về khoa học xã hội và nhân văn và Huân chương Độc lập hạng nhất. Tên ông cũng được đặt cho một phố chạy ngang qua Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội nơi con trai ông, PGS. TS. Nguyễn Văn Huy, làm giám đốc (1995-2006). 

 

Diệu Phi (firstvietnam) – tổng hợp


 

content 1 mobi
content1
content 2 mobi
content 2
ct9
ct10
ct11
ct12
ct13
ct14