TOP 100 Hồng bảo Kỷ lục Thế giới tại Việt Nam (P.11) Chùa Dâu (Bắc Ninh): Nghìn năm lịch sử trung tâm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam [VIETKINGS-TOPPLUS đề cử]

14-03-2024

(kyluc.vn) Chùa Dâu tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam

Chùa Dâu tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự. Nơi đây là trung tâm thành cổ Luy Lâu từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

Có câu thơ lưu truyền dân gian:

 "Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về,
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu"

 

 

 

 

Theo thư tịch cổ, chùa được khởi dựng ở vùng Dâu (Luy Lâu) vào thế kỷ II đầu Công nguyên, thời kỳ Sĩ Nhiếp (nhà Hán) làm Thái thú quận Giao Châu. Đây được coi là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta, là dấu tích quan trọng gắn với quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam. Chùa được xây dựng từ những năm 187 đến năm 226 mới hoàn thành, tính đến nay chùa Dâu đã ngót nghét hơn 1800 năm tuổi. Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) - người Nam Thiên Trúc, sang Trung Hoa, đắc pháp với Tam Tổ Tăng Xán, được Tam Tổ chỉ dạy về phương Nam truyền đạo - đã đến chùa vào tháng ba năm Canh Tý (580), mở đạo tràng thuyết pháp, lập nên Thiền phái đầu tiên ở Việt Nam, truyền được 19 đời.

 Chùa Dâu là nơi giao thoa của nền Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Quốc và nền văn hóa dân gian Việt Nam. Chùa thờ nữ thần mây Pháp Vân trong hệ Tứ pháp gồm: Pháp Vân (Thần Mây), Pháp Vũ (Thần Mưa), Pháp Lôi (Thần Sấm), Pháp Điện (Thần Chớp). Bốn vị thần này khởi thủy là thần nông nghiệp, làm ra các phép mây, mưa, sấm, chớp phục vụ và ảnh hưởng đến việc đồng áng của người dân. Do ảnh hưởng của Phật giáo mà các vị thần này được hóa Phật và tôn thờ. 

 

 

 

 

Chùa Dâu ngày nay là kiến trúc tu sửa từ thời Hậu Lê (vào thế kỷ 17-18), được xây dựng gồm: bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhất bao quanh ba ngôi nhà chính: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Đây là di tích gắn với huyền tích Phật mẫu Man Nương và Tứ Pháp (Pháp Vân - Nữ thần Mây, Pháp Vũ - Nữ thần Mưa, Pháp Lôi - Nữ thần Sấm, Pháp Điện - Nữ thần Chớp), đó là biểu hiện sinh động sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tín ngưỡng dân gian của người Việt với Phật giáo. So với nhiều ngôi chùa ở miền Bắc, chùa Dâu là một trong số ít các ngôi chùa vẫn duy trì các nhóm tượng thờ theo phong tục tín ngưỡng thờ tự của Phật giáo thời Lê, đó là tín ngưỡng thờ tự các tượng: Tứ trấn, Hộ pháp, Kim cương, Thập điện Diêm vương, Phật và Bồ tát, các vị La hán...

Chùa Dâu tọa lạc trên một khu đất cao, rộng, cây cối xung quanh mọc xanh tốt. Sân chùa với giếng nước, ao làng tạo nên khung cảnh đặc trưng của vùng thôn quê phía Bắc. Cảnh quan đẹp cùng ngôi chùa cổ kính, rêu phong tạo cho du khách cảm giác yên bình và thơ mộng đến lạ.

 

 

 

 

Chùa được xây theo lối kiến trúc “nội Công ngoại Quốc” - lối thiết kế đặc trưng của những ngôi chùa cổ tại Việt Nam và các nhà Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện được xây cao dần vào phía trong. Trải qua nhiều lần xây dựng và tu sửa, đặc biệt là trong thời kỳ Lê - Nguyễn, nên chùa in đậm dấu ấn kiến trúc và điêu khắc tượng đặc sắc của thời đại này.

 

 

 

Nhà Tiền thất gồm 7 gian, 2 chái, bên trong bày một số bộ bàn ghế để khách thập phương sắp lễ trước khi vào lễ Phật.

 

 

 

 

 

 

 

Khi bước vào chùa, ấn tượng đầu tiên là tháp Hòa Phong 3 tầng cao 17m nằm giữa sân. Tháp được xây bằng gạch nung. Chuông và khánh đặt trong tháp đều được đúc từ cuối thế kỉ 17 - đầu thế kỉ 18, gắn liền với câu thơ quen thuộc của người Bắc Ninh: “Dù ai đi đâu về đâu/ Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”.  Tại các góc của tháp có tượng thờ “Tứ vị Thiên Vương” cai quản bốn phương trời. Ngoài tháp Hòa Phong, chùa Dâu còn có vườn tháp gồm 8 tháp là nơi yên nghỉ của các vị sư từng tu tại chùa, có niên đại thế kỉ 14 - thế kỉ 19.

 

 

 

Nét kiến trúc đặc sắc nhất của chùa Dâu là tòa tháp Hòa Phong nằm ở khoảng sân chùa sau tiền điện. Tháp xây bằng gạch nung già, vốn có 9 tầng nhưng nay chỉ còn ba tầng dưới. Mặt trước tầng hai có gắn bảng đá khắc chữ “Hòa Phong tháp”. Tháp xây theo bình đồ vuông, mỗi cạnh tầng một rộng gần 7 m. Mỗi tầng có bốn cửa vòm ở bốn mặt. Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738.

 

 

 

 

 

 

Trong tháp có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6 m ở bốn góc, phía trên treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817.

 

Tiền đường với 7 gian phòng rộng rãi mang phong cách bố trí và đúc tượng thời Nguyễn. Tại đây đặt tượng Hộ Pháp, Bát Bộ Kim Cương, Đức Ông, Đức Thánh Hiền với tạo hình sinh động. Kế tiếp tiền đường là nhà thiêu hương, nơi thờ Thập điện Diêm Vương, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi - người đã có công tu sửa chùa và Thái tử Kỳ Đà.

 

 

 

 

 

 

 

Nhà thượng điện được xây phía trên cao nhất, là nhà một gian ba trái với mái nhà cong, tạo khối như bông sen, được trạm trổ khéo léo hình tứ linh .Bên trong thượng điện đặt pho tượng uy nghi của bà Dâu hay chính là nữ thần Pháp Vân - chị cả của Tứ Pháp. Bên tay trái của bà Pháp Vân là tượng bà Pháp Vũ hay bà Đậu - được rước sang thờ cùng khi chùa Đậu (Bắc Ninh) bị tàn phá do Pháp sang xâm lược. Bên dưới bàn thờ bà Dâu là tượng của Kim Đồng, Ngọc Nữ và hộp đựng Thạch Quang, viên đá nằm trong thân cây dung thụ mà theo sự tích là hoá thân của con gái vị tăng sĩ Ấn Độ, Khâu Đà La và bà Man Nương. Các bức tượng được bố trí cân xứng và mang đường nét, vẻ đẹp đặc trưng của người Việt Nam.  

 

 

 

 

Nhắc đến nghệ thuật tượng của chùa Dâu, còn phải đến 18 pho tượng của các vị La Hán ở dọc hai dãy hành lang song song nối liền tiền thất và hậu đường được miêu tả với các tư thế, hình dáng và màu sắc sinh động mà gần gũi.

 

 

 

 

 

 

18 vị La hán trong chùa Dâu

 

Trải qua nhiều lần trùng tu và tôn tạo, chùa Dâu vẫn còn lưu lại nhiều hiện vật có giá trị đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp vân Phật bản hạnh” có niên đại 1752 và 6 đạo sắc phong có giá trị lịch sử có từ thời vua Minh Mạng (1791 - 1842),  Tự Đức (1829 - 1893) và vua Khải Định (1885 – 1925). Qua nghiên cứu, các nhà sử học và Phật học đã khẳng định “Chùa Dâu là Tổ đình của Phật giáo Việt Nam”.

Với ý nghĩa là cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho 1 năm sản xuất nông nghiệp được bội thu, lễ hội chùa Dâu được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hàng năm. Lễ hội có nhiều nghi thức sinh hoạt dân gian và nhiều trò diễn xướng phong phú, hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách thập phương, tín đồ, Tăng, Ni Phật tử đến dâng hương, dự hội. Đây được coi là lễ hội Phật giáo lớn của vùng Bắc Bộ, qua đó thể hiện nét đẹp, giá trị văn hóa về đời sống tín ngưỡng của một vùng đất cổ xưa còn để lại.

 

------------------------------------------

 

 

 

 

Hồng bảo Kỷ lục được hiểu là những công trình Kỷ lục được thực hiện trong một thời gian dài, tích hợp những giá trị về kiến trúc, thẩm mỹ, văn hóa… để hình thành nên cho mai sau những di sản, đồng thời góp phần viết tiếp những câu chuyện mà cha ông đã gây dựng, từ đó góp phần định vị những giá trị địa phương nói riêng và Việt Nam nói chung vươn tầm khu vực và thế giới, góp phần định hình, phát triển hình ảnh du lịch địa phương nói riêng và đất nước nói chung thông qua những công trình biểu tượng.

Hành trình tìm kiếm TOP 100 Hồng bảo Kỷ lục Thế giới tại Việt Nam được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) giao cho Trung tâm TOP Việt Nam triển khai và đề cử đến Viện Kỷ lục Thế giới (World Mark) với mong muốn góp phần nhận diện, định vị, quảng bá hình ảnh quốc gia – địa phương ra thế giới. Dự án là một hành trình dài hơi và có thể tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác trong mục tiêu chung tạo ra những thay đổi về kiến trúc cảnh quan hiện hữu và quan trọng hơn là góp phần tạo nên những giá trị chiều sâu về văn hóa điểm đến hay lịch sử gắn liền với điểm đến.

 
 

Diệu Phi – VietKings (tổng hợp và biên tập, ảnh Internet)


content 1 mobi
content1
content 2 mobi
content 2
ct3
ct4
ct5
ct6
ct7
ct8
ct9
ct10
ct11
ct12
ct13
ct14