TOP 100 Hồng bảo Kỷ lục Thế giới tại Việt Nam (P.70) Làng cổ Đường Lâm (Hà Nội): Làng cổ ấp hai vua – [VIETKINGS-TOPPLUS đề cử]

14-05-2024

(kyluc.vn) Làng cổ Đường Lâm là một làng cổ lâu đời mang rất nhiều nét văn hóa đặc sắc của vùng Bắc Bộ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, đến nay, ngôi làng vẫn giữ được những nét đặc trưng cơ bản của một ngôi làng xưa với cây đa, bến nước, sân đình, nhà cổ, chùa miếu linh thiêng... Nét tự nhiên cùng sự cổ kính khiến Đường Lâm trở thành một địa chỉ ấn tượng đối với du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm về du lịch vùng ngoại ô Hà Nội.

Quần thể di tích làng cổ ở Đường Lâm nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 47km, cách trung tâm hành chính thị xã Sơn Tây 5km theo chỉ giới đường quốc lộ 32 hướng từ Hà Nội đi lên các tỉnh vùng Tây Bắc. Làng tọa lạc ở phía trái đường quốc lộ, phía bên phải là bờ đê sông Hồng, không gian địa giới hành chính của làng gồm 5 thôn thuộc xã Đường Lâm là: Mông Phụ, Đông Sàng, Đoài Giáp, Cam Thịnh và Cam Lâm. Thật hiếm có một ngôi làng Việt cổ nào lại có đầy đủ các di tích văn hóa kiến trúc đại diện cho nền văn minh châu thổ sông Hồng đã phát triển vài ngàn năm rực rỡ liên quan tới các mốc quan trọng của dân tộc như Đường Lâm.   Cho đến ngày nay, làng Đường Lâm vẫn lưu giữ được những nét đặc trưng cơ bản của một ngôi làng ở Bắc Bộ có cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình,… với 956 ngôi nhà truyền thống.

 

 

 

 

Thuận lợi về giao thông thủy bộ khiến mảnh đất Đường Lâm trở thành điểm cư trú lâu đời của người Việt cổ thuộc văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn. Đây là quê hương của hai vị vua - Phùng Hưng (761-802), Ngô Quyền (808-944), cũng là mảnh đất sinh ra sứ thần Giang Văn Minh - một nhà ngoại giao văn tài thao lược xuất sắc cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ngay tại đây, trong một chương trình khai quật vào năm 1971, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các di chỉ đồ đá thuộc thời Hùng Vương; còn các nhà chuyên môn đều đánh giá: Đường Lâm là một làng cổ Việt Nam, vừa đẹp về cảnh quan lại vừa giàu về lịch sử văn hóa. Đợt thám sát tại Đường Lâm do Viện Việt Nam học (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) và trường Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) tổ chức đã bước đầu kết luận Đường Lâm có thể là nơi cư trú của người Việt Nam kỳ văn hóa Phùng Nguyên (cách nay chừng 4.000 năm). 

Quần thể di tích được hình thành và phát triển trong sự gắn bó đoàn kết, khăng khít hữu cơ với cuộc sống thường nhật vận động theo tiến trình của các thế hệ đó là những thành quả, trí tuệ, sự sáng tạo, sự trao đổi, lựa chọn kĩ lưỡng, sự giữ gìn cái hồn cốt bản sắc quý của dân tộc Việt Nam. Trong các loại hình văn hóa nó là tổ hợp của cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Đó là cổng làng cổ, đình, đền, chùa, miếu, lăng mộ, giếng, điếm, văn chỉ, võ chỉ và đặc biệt là những ngôi nhà cổ mộc mạc với mái ngói rêu phong trầm mặc với thời gian. Có thể kể đến các địa danh như: cổng làng Mông Phụ, đình Mông Phụ, đền Phủ bà chúa Mía, chùa Mía, đình thờ Phùng Hưng, đền – lăng Ngô Quyền. Hầu như các di tích đều được các bậc tiền nhân dày công sáng tạo xây dựng bằng loại vật liệu truyền thống của vùng đó là đá ong xứ Đoài, thứ vật liệu ấy luôn bảo đảm cho công trình luôn vững chãi thế nên quần thể di tích làng cổ ở Đường Lâm vẫn còn được nhắc đến với cái tên khác như: “Làng Việt cổ đá ong".

 

 

 

Cổng làng Mông Phụ được xây dựng vào thời gian đời vua Lê Thần Tông (1553), mở lối cho trục đường chính dẫn vào làng. Cổng được làm theo kiểu “Thượng gia hạ môn” có nghĩa là trên là nhà, dưới là cổng. Cổng được xây bít đốc, có trụ đỡ mái và đầu nóc, bên trong có khung gỗ, kèo, hoành, rui, trên mái lợp ngói. Thượng lương còn rõ dòng chữ khắc trên gỗ “Thế hữu hưng nghi đại”, nghĩa là “Cuộc đời muốn được hưng thịnh cần phải thích nghi”. Tường của cổng làng được làm bằng đá ong đào từ lòng đất, cát thì lấy trên gò trong vùng rồi trộn vôi với mật, tạo thành hỗn hợp kết dính để xây cổng. Tường xây đá ong trần chít mạch, không “đao, đấu, diềm, mái”. Hai cánh cổng được làm bằng gỗ lim theo hình “cánh dế” dày chừng bốn năm phân, xoay trên hai cối cổng bằng đá và hai bánh xe gỗ bọc thép. Cổng làng xưa chỉ đủ cho vài người gánh lúa nghỉ ngơi, là chỗ trú cho vài người đi tuần làng. Có thể nói, đây là nơi phân định không gian lao động ở phía ngoài và không gian sinh sống phía trong làng. Trước cổng là cây đa cổ, cây duối và một số bụi tre nhỏ.

 

 

 

Đình làng Mông Phụ được xây dựng ở vị trí trung tâm của làng, có một đặc điểm rất đặc biệt đó là hai dãy dọc được xây dựng theo kiểu sạp đình. Đây là kiểu kiến trúc Việt - Mường đậm nét nhất còn được lưu giữ lại, minh chứng cho sự giao thoa hài hòa của hai nền văn hóa anh em từ cách đây mấy trăm năm. Những cây cột đình chủ yếu bằng gỗ lim, gỗ táu vừa một vòng tay người lớn ôm qua thời gian đã trở nên đen bóng. 

 

 

 

Đặc biệt, trong đình còn giữ một chiếc mõ cá - hình ảnh thân thuộc ở các đình của người dân Đường Lâm.

 

 

 

 

Dân làng Đường Lâm kể rằng, Chùa Mía là chính cung mà Chúa Trịnh đã xây dựng cho cung phi Ngô Thị Ngọc Diệu. Ngôi chùa tọa lạc trên một khu đất cao giữa làng với hồ nước nhỏ trước mặt và nhìn ra sông Hồng. Tương truyền tại dòng sông này, chúa Trịnh đi thuyền rồng, tuần thú xứ Đoài và gặp cô thôn nữ xinh đẹp. Bà là người đã để lại ngôi chùa Mía nổi tiếng với gần 300 bức tượng phật hoàn toàn mang màu sắc dân tộc Việt Nam. Chùa cũng được mệnh danh là một bông hoa xuất sắc về nghệ thuật tạo hình thế kỷ XVII.

 

Có thể nhận thấy vai trò chủ đạo rõ nét nhất của đá ong ở tường nhà, cổng, giếng, tường đình... Đá ong ở Mông Phụ có ở mọi nơi, từ ruộng đồng, ao vườn, đá ong nằm sâu dưới lòng đất. Đá ong là loại đất sỏi, khi còn ở trong lòng đất thường mềm, nhưng sau khi được lấy lên, càng để dãi dầu nắng mưa, càng rắn chắc, có độ bền cao. Đá ong được đào lên xây nhà ở Đường Lâm thường cắt theo kích thước mỗi viên là 40 x 24 x 18cm. Vẻ đẹp của những viên đá ong được giữ nguyên bề mặt thô nhám chất lên xây nhà, xây bếp. Dọc đường làng, các dãy tường nhà, tường rào thẳng tắp, sẫm mầu nâu mật, đã tạo nên vẻ đẹp riêng ở làng cổ Đường Lâm.

 

 

 

 

 

Vẻ quyến rũ dễ nhận thấy nhất ở Đường Lâm là những ngôi nhà được xây dựng bằng những nguyên liệu đặc biệt: đá ong. Hầu như ở tất cả các công trình kiến trúc gắn với đời sống của người dân Đường Lâm đều có sự hiện diện của đá ong, bùn ao. 

 

 

 

 

 

Trước đây, giếng làng là nơi người dân lấy nước sinh hoạt hàng ngày. Các giếng cổ ở Đường Lâm đều được đặt ở nơi cao, thoáng mát, gần đình, chùa hoặc trung tâm của xóm.

 

Những ngôi nhà cổ ở Mông Phụ cũng là những công trình kiến trúc rất độc đáo. Chúng được dựng lên từ sự kết hợp hài hòa giữa gỗ và đá ong. Phần mái được lợp bằng ngói mũi. Phần tường của những ngôi nhà chắc chắn và độc đáo nhất. Bề mặt thô nhám của đá ong không được trát kín. Đã vài trăm năm tuổi nhưng những bức tường này vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt và tạo nên một vẻ đẹp nhuốm màu thời gian vô cùng đặc sắc. Sống trong những ngôi nhà được xây bằng đá ong rất dễ chịu, thoải mái, tường nhà không bị ẩm mốc, mùa hè thì mát mẻ bởi đá ong là thứ vật liệu có kết cấu rỗng, có khả năng trao đổi không khí.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Những ngôi nhà cổ nằm ẩn mình và phủ màu rêu phong trên bề mặt những viên ngói mũi ri, cổng, tường rào quanh nhà xây bằng đá ong theo lối xưa bằng đất đá, bã trầu, bùn để tạo chất kết dính.

 

Nhà cổ chủ yếu dựng bằng gỗ mít và gỗ lim với những nét chạm trổ tinh xảo. Nhà thường có 5 gian, hai chái. Gian giữa để thờ, trang trí cửa võng, có bàn ghế, sập gụ, các nét chạm trổ vẫn được giữ nguyên với các tích phong cảnh thể hiện nền nếp của các cụ ngày xưa. Ngoài sân vườn vẫn có cái giếng đá ong cổ, nước giếng rất trong có thể sử dụng sinh hoạt hàng ngày. 

 

 

 

 

 

 

Giá trị nữa của Đường Lâm chính là ở cách quy hoạch không gian. Làng Mông Phụ được đặt trên một quả đồi thấp. Đỉnh đồi là ngôi đình lớn với sân rộng như một quảng trường, từ đó tỏa ra các hướng vào xóm. Làng được quy hoạch theo lối lan tỏa từ tâm điểm là đình làng. Sân đình chính là một ngã sáu tỏa ra những con đường dẫn đến mọi ngõ ngách của làng.  Điều đặc biệt là dù đi hay đến và bắt đầu từ xóm nào, không ai phải quay lưng với hướng chính của mình. Các ngôi nhà trong làng đều được cấu trúc theo kiểu nội tự, ngoại khách, sân nhà thấp hơn mặt đường, vào những ngày mưa, nước từ ngoài dồn vào trong sân (tụ thủy sinh tài) rồi mới chảy thoát ra đường cống. Theo người dân ở đây, điểm đặc biệt nữa là để đề phòng trộm cướp, các đường ngõ trong làng đều là ngõ cụt, trong khi đó từ mỗi ngôi nhà đều có cửa bí mật và đường tắt ra sân đình để khi làng có việc, trai tráng khỏe mạnh trong làng có thể nhanh chóng có mặt theo lệnh điều động.

 

 

 

Một nét độc đáo khác của làng cổ Đường Lâm là hệ thống đường gạch cổ với các đường nhánh tỏa ra từ hai bên trục chính như hình xương cá. Với cấu trúc này, nếu đi từ đình làng sẽ không bao giờ quay lưng vào cửa Thánh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gắn liền với các di tích là những lễ hội đặc sắc như lễ hội ở đình Mông Phụ vào ngày 10/1 Âm lịch, lễ hội tưởng niệm ngày mất của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng vào ngày 8/1 Âm lịch, lễ hội vật ở Ôn Hòa Tự (chùa Ón) ngày 3/3 Âm lịch, lễ tế ở nhà thờ họ Phan ngày 18/1 Âm lịch, lễ hội ở đình Cam Thịnh ngày 12/1 Âm lịch, lễ Phật Đản ở Sùng Nghiêm Tự - chùa Mía vào ngày 8/4, lễ tưởng niệm ngày mất của sứ thần tài ba Giang Văn Minh ngày 2/6 Âm lịch, lễ giỗ của vua Ngô Quyền ngày 14/8 Âm lịch.

Trong không gian văn hóa làng cổ mang đậm hồn quê nông thôn Việt Nam, du khách còn được thưởng thức các giá trị ẩm thực quý được lưu truyền hàng ngàn năm nay từ đời này sang đời khác và luôn được bảo tồn gìn giữ như không thể thiếu được trong cuộc sống thường ngày như: Tương làng Mông Phụ, chè kho, chè lam, gà Mía, thịt quay đòn, bánh rán nước, kẹo dồi kẹo lạc vừng của làng Đông Sàng, món cà dầm tương xé phay màu hổ phách, bánh gai làng Cam Lâm, củ cải khô Mông Phụ…hay cách nhộn nhịp tấp nập của phiên chợ Mía mỗi sớm mai ngày mới, với vô vàn sản vật của cả vùng được bày bán trao đổi.

 

 

 

Nhắc tới Đường Lâm, không thể không nhắc tới Tương gạo - món ăn phổ biến của mọi nhà ở xứ Đoài. Các nguyên vật liệu để làm tương phải được lựa chọn cẩn thận, từng công đoạn làm phải chính xác, tỉ mỉ mới ra được một chum tương ngon. 

 

 

 

Mâm cỗ Đường Lâm với đặc sản gà mía, cá kho, canh bóng, củ cải khô xào nấm rau củ.

 

Năm 2006, Đường Lâm trở thành làng cổ đầu tiên của cả nước được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Để lưu giữ “hồn” làng Việt cổ, tháng 5/2006, thị xã Sơn Tây cùng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã lập kế hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy các di tích văn hóa - lịch sử của làng cổ Đường Lâm. Theo đó, Cục di sản Văn hóa và thị xã Sơn Tây đã điều tra khảo sát và phối hợp với chuyên gia nhiều nước, trong đó có sự hỗ trợ nhiệt tình của tổ chức Jaica - Nhật Bản tham gia trùng tu, tu bổ các di tích. Cũng từ đó, các lớp tập huấn được mở ra nhằm nâng cao nhận thức về giá trị và trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ cảnh quan di tích cho cán bộ và nhân dân.

Nếu người Hội An tự hào về phố cổ, người Hà Nội hãnh diện với 36 phố phường thì người Đường Lâm cũng có thể tự hào không kém về những ngôi nhà đá ong và làng cổ Đường Lâm vẫn là một địa chỉ thu hút khách du lịch mỗi khi họ đến Sơn Tây. Giữa cuộc sống xô bồ tấp nập nhưng vẫn sở hữu những giá trị văn hóa độc đáo, cảnh quan, kiến trúc tiêu biểu của vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng, làng cổ Đường Lâm chắc chắn sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm khó quên.

 

------------------------------------------

 

 

 

 

 

Hồng bảo Kỷ lục được hiểu là những công trình Kỷ lục được thực hiện trong một thời gian dài, tích hợp những giá trị về kiến trúc, thẩm mỹ, văn hóa… để hình thành nên cho mai sau những di sản, đồng thời góp phần viết tiếp những câu chuyện mà cha ông đã gây dựng, từ đó góp phần định vị những giá trị địa phương nói riêng và Việt Nam nói chung vươn tầm khu vực và thế giới, góp phần định hình, phát triển hình ảnh du lịch địa phương nói riêng và đất nước nói chung thông qua những công trình biểu tượng.

Hành trình tìm kiếm TOP 100 Hồng bảo Kỷ lục Thế giới tại Việt Nam được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) giao cho Trung tâm TOP Việt Nam triển khai và đề cử đến Viện Kỷ lục Thế giới (World Mark) với mong muốn góp phần nhận diện, định vị, quảng bá hình ảnh quốc gia – địa phương ra thế giới. Dự án là một hành trình dài hơi và có thể tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác trong mục tiêu chung tạo ra những thay đổi về kiến trúc cảnh quan hiện hữu và quan trọng hơn là góp phần tạo nên những giá trị chiều sâu về văn hóa điểm đến hay lịch sử gắn liền với điểm đến.

 

Diệu Phi – VietKings (tổng hợp và biên tập, ảnh Internet)


content 1 mobi
content1
content 2 mobi
content 2
ct3
ct4
ct5
ct6
ct7
ct8
ct9
ct10
ct11
ct12
ct13
ct14